Monday, December 26, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI Kỳ 8: Chuyện hè về phép

Anh em từ Việt nam sang cùng anh em tại Budapest cùng gặp nhau trên tàu thủy.

Học viên quân sự hai năm được về nước học chính trị kết hợp nghỉ phép một lần. Trước ngày về phép, tâm trạng nôn nao khó tả. Công tác chuẩn bị tiến hành kỹ luỡng như mở chiến dịch, mất thậm chí... nửa năm trời. Mua quần áo, vải vóc, len dạ, xe đạp, thuốc men, quà cáp... tốn quá nhiều thời gian. Bên nhà lại viết thư sang dặn dò mua thứ này mua thứ nọ. Đi tàu hỏa nên trọng lượng hàng hóa cố gắng ở mức tối đa có thể: một chiếc đàn (xe đạp tháo rời ra, buộc hai cái bánh, ghép cổ phuốc, ghi-đông, phụ tùng, nhồi nhét trăm thứ bà dằn vào bên trong, sau đó dùng vải khâu lại như cái túi hồ lô, khâu cả quai xách); một va-li "tổng cục" màu nâu nhạt, một túi du lịch…


Các anh lớn tuổi hay có thêm máy khâu Singer. Một thời, siêu thị Skála bán thịt bò hộp Việt Nam (phẩm chất đã xuống cấp?!) rẻ như bèo, anh em mình vào bao giờ cũng khuân ít nhất một xe đẩy, về chịu khó rang lên cho se lại làm ruốc; hay có sáng kiến mua mỡ lợn về rán lấy mỡ nước, đổ vào can nhựa, nhét vào tủ lạnh cho đông cứng, chờ ngày ra ga phía đông (Keleti pályaudvar) lên đường về Việt Nam.

Buổi tối xuất phát ở ga Phía Đông, sáng mai đã có mặt ở ga Csop. Toa tàu bị cẩu cao lên trên không trung, thay bánh sắt khác, vì khổ rộng đường sắt của Hung và Liên Xô khác nhau (làm thế để nếu chiến tranh xảy ra, anh không sử dụng được hệ thống đường sắt của tôi). Những lúc ấy, cửa toa bị khoá chặt.

Trên đường về, cái thời còn đi tàu hỏa, anh em được ghé Mát-xcơ-va dăm ba ngày chờ tàu về Bắc Kinh. Phòng Tùy viên quân sự bên ấy hay bố trí cho anh em ta ở Khách sạn "Bông lúa vàng" (Za-la-tơi Kô-lơ-xơ). Ngay cửa ra vào khách sạn có cái máy đánh giầy, nhét đồng 2 cô-pếch màu vàng vào, bấm nút là máy chạy ro ro. Cạnh đó có hàng thịt cừu nướng (sá-sơ-lức) thơm điếc mũi. Tận dụng những ngày này, quân ta một mặt đi thăm thủ đô của thiên đường chủ nghĩa xã hội, mặt khác nhờ bạn bè, người thân dẫn đi lùng mua hàng hóa. Mát-xcơ-va có các "đặc sản" có thể mang về Hà Nội như: quạt tai voi, bàn là, đài Ri-gôn-đa, máy khâu Trai-ca, nhung hươu Pan-tốck-crin, xe đạp Xpút-nhích, xích, líp, nan hoa, moay-ơ xe đạp, giấy ảnh, nho khô, áo bay... Các cửa hàng lớn là GUM và SUM. Ngoài ra có Thế giới thiếu nhi (Giét-xki Mi-rờ). Phụ cấp đi đường ít ỏi, đâu như gần 3 rúp (trong khi đó, áo bay giá là 14 rúp). Chủ yếu anh em mình đã chuẩn bị đổi rúp Nga từ bên Hung: những hôm đi lao động, tạt vào hàng rào doanh trại lính Nga ngoắc tay và bập bẹ vài câu tiếng Nga (ghen-ghi = tiền), là các chú lính Nga xông ra đổi. Giá hời vì chỉ hơn nửa già giá bên ngoài.

Những ai có tinh thần Bôn-sê-vích thường có nguyện vọng ghé thăm Lăng Lê-nin. Cũng phải dùng mưu mẹo mới viếng được Lê-nin, vì xếp hàng rất dài. Nhác trông thấy bóng anh cảnh sát, vội chạy ra, giơ vé máy bay và hộ chiếu (đằng nào anh ta cũng chả xem đâu!) và trình bày hoàn cảnh "éo le": tôi là người nước ngoài, rất ngưỡng mộ lãnh tụ Vla-đi-mia I-lích Lê-nin của giai cấp vô sản toàn thế giới, nay sắp đến giờ ra sân bay (mặc dù vé của mình là vé tàu hỏa ?!), chúng tôi cần sự giúp đỡ. Anh cảnh sát thật thà như đếm chân tình dẫn mình lên chen hàng, thế là vào được.

Đến Bắc Kinh, lại được ăn chơi nhảy múa vài ngày chờ tàu liên vận về Việt Nam. Phòng đợi ở ga Bắc Kinh rất lịch sự, có bàn ghế và cốc chén bày sẵn. Trà để trong hộp, phích nước nóng ngay bên cạnh, uống đậm nhạt thế nào, hành khách tự pha lấy. Thường, tùy viên quân sự bố trí cho anh em ở luôn trong sứ quán, tiết kiệm ngoại tệ cho Nhà nước. Anh em cũng được phát công tác phí, lấy số ngày nhân với tiêu chuẩn đã được Bộ quốc phòng quy định, quanh quanh 3-5 nhân dân tệ. Hữu ái có lần bị bọn cảnh vệ sứ quán từ chối không cho vào sứ quán vì... trông cái mặt giống người Tàu quá. Đoàn 10 người ăn cơm ở sứ quán 3 lần (trên 20 bữa, cả trưa cả tối), nhưng thực đơn giống hệt nhau: cơm nóng, bắp cải luộc, tim luộc, nước chấm. Nước luộc bắp cải lẫn tim nên màu hơi đen đen, mùi vị chẳng giống ai. Những người ở đó nói "Chưa ăn thua gì. Bọn tớ xơi kiểu này liên tục 12 tháng liền tù tì. Tim ở đây rẻ lắm".

Bắc Kinh hồi đó đã bắt đầu có tàu điện ngầm (metro), nhưng là loại cổ lỗ sĩ, tức là đào đất lên như một cái hào khổng lồ, lắp đặt đường ray xong, tạo trần rồi mới lấp đất lại. Cho nên, tàu điện ngầm chỉ ở độ sâu 20-30 mét là cùng, không có hệ thống bán vé tự động, mà có "sơ vơ" (soát vé) miệng la hét inh ỏi chen lấn khắp toa thu tiền, y như xe buýt Hà Nội bây giờ. Phong cảnh ở Bắc Kinh đẹp, nhưng thành phố rộng quá (ở mức độ nào đó, còn bao la hơn Mát-xcơ-va, vì các thắng cảnh Di hoà viên, Cố cung ở cách trung tâm đến 40 km). Vả lại, không nhờ được ai dẫn đi, nên chưa có dịp thăm thú được mấy. Hai nơi được anh em ta "vãn cảnh" nhiều nhất là Cửa hàng Hữu nghị và Bách hóa Đại lầu. Loanh quan nữa thì ra Quảng trường Thiên An Môn. Có thể kể thêm một cửa hàng nhỏ xíu bán các gói chè sen màu xanh lá cây nhạt ở gần sứ quán. Đặc sản Trung Quốc là: bấm móng tay, dây đeo chìa khóa, kéo cắt tóc, phích nước, sâm, táo (mua ở châu Âu về đến Việt Nam thì táo hỏng mất), thuốc lá Đại tiền môn...

Hôm nào sứ quán đông quá, hết chỗ nghỉ, anh em lại được tùy viên nghiến răng chi tiền cho ra ở Khách sạn Bắc Kinh. Hai người một phòng, tít trên tầng 10 của tòa cao ốc, nhìn xung quanh thấy mê hồn, tỉnh cả người. Chủ nghĩa xã hội cũng chỉ đến thế là cùng! Thú vị nhất là trên bàn viết luôn để sẵn chục cái phong bì và tập giấy viết thư ướp nước hoa thơm lừng. Dù không viết thư viết từ, ta cứ tự nhiên nhét các thứ đó vào va-li, sáng mai dậy đã lại thấy cô phục vụ bổ sung đầy đủ với bộ mặt tươi như hoa, không nhăn nhó một tẹo nào. Lại lẳng lặng nhét tiếp vào va-li. ăn uống trong khách sạn thật ấn tượng. Sáng, 10 món. Trưa và tối, 20 món. Các món ăn đặt trên chiếc bàn xoay, ai muốn thưởng thức món nào thì xoay nhẹ cái bàn một cái, cho tới khi gặp món ăn ưa thích thì dừng bàn lại. Không nhớ hết tên các món, vì món nào cũng như món nào: trông màu đen đen, nâu nâu, ăn vào có vị hơi hăng hắc, nhưng cảm giác nói chung là tuyệt diệu. Đầu bếp giải thích, nấu các món này rất cầu kỳ, phải chuẩn bị thực phẩm, ngâm tẩm thuốc bắc trước 6 tiếng đồng hồ.

Tàu hỏa đi từ Mát-xcơ-va về Bắc Kinh có 2 đường: qua Mông Cổ (ga Cáp Nhĩ Tân), hoặc qua Đại Liên. Mông Cổ hoang vu, đúng là một sa mạc. Toa ăn trên tàu phục vụ món thịt ngựa hay thịt cừu tanh lòm, quân ta khó nuốt trôi. Đến biên giới Trung Quốc phải đổi tàu. Mấy anh em lếch thếch xách đồ vào phòng đợi. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Có hôm, Liên Xô và Trung Quốc cãi nhau chửi nhau ra rả trên loa phóng thanh, anh em mình bị bỏ đói trong phòng chờ, phải "lệ quyên" mang bánh kẹo (định làm quà về thăm nhà) ra xơi, xót hết cả ruột. Lên được tàu Trung Quốc là mừng hú, cảm giác như sắp về nhà tới nơi rồi. Toa tàu làm đẹp hơn, sơn màu xanh lá cây thẫm (tàu Liên Xô sơn màu trắng bạc ngả sang xám), rộng hơn, ghế nằm êm hơn, phục vụ chu đáo hơn, có nước nóng để tắm thoải mái. Trong toa có cả quạt máy đặt trong cái lồng sắt chạy êm như ru và màn nhung xanh rêu che cửa sổ. Các cô gái Trung Quốc phục vụ toa đã qua vòng tuyển chọn, trông mát mắt hơn mấy đồng chí nam giới khô không khốc trên tàu Liên Xô. Có hôm, cả bọn ngồi mải mê chơi bài không chịu đi ăn cơm, cô phục vụ mời mọc mãi mỏi cả mồm, tất cả vẫn lờ tịt, giả bộ không biết tiếng. Cuối cùng, cô ta đành giở chiêu đặc biệt: "Em mời các anh đi ăn cơm để nhà bếp họ còn nghỉ. Các anh thôi đi, không đánh bài nữa!". Cả hội ớ ra, mắt tròn mắt dẹt. Thì ra, cô này từ bé đã ở Việt Nam, học hết cấp ba ở Hòn Gai (Quảng Ninh), sau mới theo bố mẹ về Trung Quốc. Trên đường đi, có lần tới Đại Đồng, tàu dừng lại 30 phút cho anh em leo lên Vạn Lý Trường Thành. Đến một ga, quân Việt Nam mình xếp hàng mua cái bấm móng tay, xô đổ cả tủ kính của người ta.

Tàu hỏa đi qua cầu Trường Giang 2 tầng, một bên là Vũ Hán, một bên là... Thành Đô (không biết nhớ có lộn không?). Trận Xích bích xưa kia diễn ra tại đây. Lần đầu tiên thấy một bến xe ô tô buýt chứa ngót nghét 1.000 xe. Rồi qua vùng Hoa Nam trù phú. Ai đó bảo, Trung Quốc họ cố nắn đường sắt liên vận qua các miền đất phì nhiêu giàu có, chịu thiệt khoảng cách dài hơn, để thu phục sự trầm trồ tán thưởng của người nước ngoài với Trung Hoa vĩ đại. Dân tình hồi đó mặc quần áo màu thâm: đen, tím, nâu. Không thấy ai mặc quần áo màu sáng. Xe đạp phổ biến là xe đạp Vĩnh Cửu hoặc Phượng Hoàng. 12 giờ trưa, thấy họ đưa nhau ra sân bóng rổ tập luyện hăng say lắm.

Về đến ga Bằng Tường có một dãy nhà tắm 30-40 buồng, buồng nào cũng vắt một chiếc khăn tắm có hoa to rực rỡ. Phục vụ chu đáo đến mức hễ ai bước ra khỏi buồng tắm, cô gái ngồi bên ngoài lại vào thu dọn chóng vánh, thu hồi khăn tắm cũ và vắt lên một chiếc khăn mới còn sực nức mùi thơm.

Qua ga Đồng Đăng, thấy niềm vui dâng lên tràn ngập. Đến cầu Long Biên thì cảm thấy: tàu hỏa ơi, sao mày chạy chậm thế? Khi tàu đi ngang qua các chỗ chắn tàu, anh em xô nhau nhìn qua cửa sổ, hy vọng bắt gặp một khuôn mặt thân quen. Tại ga Hàng Cỏ, người nhà đã đứng đợi sẵn tự bao giờ.

ước vọng được ngồi xem tại Népstadion đã được thực hiện 
Những ngày học chính trị, một niềm vui nữa là được nhận phụ cấp tiền Việt. Khi đang học ở Hung, nếu không phạm khuyết điểm gì thì mỗi năm được lên một cấp. Điều này, Tùy viên quân sự căn cứ vào báo cáo của các anh Đoàn trưởng, Bí thư chi bộ. Nhiều anh lên tằng tằng: binh nhì (khi mới nhập ngũ), binh nhất (khi bước chân sang Hung), hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ. Sau đó là thượng sĩ... kịch. Không phải là diễn kịch, àm là "kịch đường tàu", "kịch trần". Hãn hữu, có anh Quang già được xét phong chuẩn úy, và một số bạn học thêm bằng thạc sĩ (kis doctor = đốc tơ bé = Master) thì phụ cấp cao hơn. Phụ cấp ít ỏi, nhưng cộng dồn vài ba năm cũng ra tấm ra miếng, đủ sức chiêu đãi gia đình họ hàng thân thuộc (hồi ấy chưa ai có bạn gái). Anh chàng thiếu úy tài vụ phát phụ cấp trông không nhanh nhẹn lắm, mắt ti hí, rất khôn. Bao giờ anh ta cũng nói câu chốt hậu sau khi phát đủ tiền cho anh em: "Sao, có anh em nào thắc mắc gì không?". Có lần, anh em rụt rè thắc mắc: "Tôi với anh X. cùng nhập ngũ một ngày, cùng đi sang Hung, cùng lên quân hàm một đợt, nay lại cùng về phép, sao tôi lại lĩnh ít hơn anh ấy?". Anh tài vụ lập tức hỏi: "Đâu, đâu?" và lấy chiếc bút chì ra tính tính toán toán, giở hết sổ này sổ nọ, cuối cùng phán lạnh tanh: "Thôi chết, tôi tính nhầm cho đồng chí X. rồi. Đề nghị đồng chí đưa lại cho tôi số tiền là...". Quân ta chân ướt chân ráo vừa về, lại không nắm vững chế độ chính sách trong quân đội (hơi bí vì không có máy vi tính như bây giờ), đành chịu để cho anh ta bắt nạt, ăn chặn, sau đó ra ngoài cổng Trạm 66 hục hặc với nhau: "Mày chán bỏ mẹ, thắc mắc làm cái quái gì? Tự nhiên hai thằng mất mẹ nó chục bát phở".


Bảo rằng học chính trị qua loa là không đúng. Học căng ra phết, vì là học dồn dập, để sau đó một số chiến sĩ còn kịp về quê. Chủ yếu học "Tình hình nước nhà hiện nay", "Một số âm mưu thâm độc của đế quốc xâm lược", "Hai nhiệm vụ chiến lược của quân đội cách mạng: bảo vệ và xây dựng Tổ quốc XHCN", "Đường lối đối ngoại của Đảng ta".v.v... Học xong, phải viết bài thu hoạch nộp cho trợ lý chính trị.


PhanHong

Friday, December 23, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI Kỳ 7: Chuyện học tập ở trường

Phía sau anh em là hành lang thư viện trung tâm BME

So với các nước XHCN khác, riêng Hung nhận đào tạo thêm cho Việt Nam theo hình thức: mỗi năm Bộ quốc phòng Hung gửi chừng 10-15 sinh viên Việt Nam ra học đại học bên ngoài. Các sinh viên này ngủ trong ký túc xá quân đội, chính là doanh trại Petőfi, để đảm bảo tính nghiêm túc kỷ luật. Kinh nghiệm cho thấy, học năm thứ nhất là vất vả nhất vì tiếng Hung chưa thạo, số tiết học lại nhiều. Một thuận lợi là trong doanh trại có nhiều đoàn, nên các đoàn học dưới có thể nhờ đoàn trên giúp đỡ, nếu cùng chuyên ngành. Kết quả học tập, nghiên cứu là một tiêu chí quan trọng để đánh giá các học viên. Thủ trưởng "phòng tùy viên" lại luôn đôn đốc anh em "năm sau phải đạt thành tích cao hơn năm trước" khiến anh em phải chịu một sức ép tâm lý khá nặng nề. Bù lại, kết quả học tập của các sinh viên sống trong Doanh trại có phần nhỉnh hơn sinh viên ngoài (song, đáng buồn là sau này sinh viên ngoài nhiều người lên chức to hơn, tức là 'thành đạt" hơn).



Sinh viên Việt nam không được hưởng sự ưu ái đặc biệt nào của các giáo viên Hung. Họ hoàn toàn bình đẳng: học như thế, thi như thế. Riêng đoạn đi thực tập thì còn không được ưu ái bằng các sinh viên Hung, vì sinh viên Hung đến năm thứ 4 được ra nước ngoài thực tập (thực chất là trao đổi sinh viên giữa các trường đại học ở châu Âu với nhau), còn sinh viên Việt Nam ở doanh trại Petőfi không được phép xuất cảnh (hộ chiếu phòng Tùy viên giữ).

Ở trường đại học X. còn có chuyện không biết nên gọi là vui hay buồn. Chục năm về trước, có một cô gái Việt nam học ở đấy và một thầy giáo trẻ đem lòng thương nhớ cô. Không biết hai bên có hẹn hò với nhau gì không, nhưng thầy giáo người Hung vẫn ngày đêm đợi chờ. Có ai ở Việt Nam sang, thầy đều hỏi thăm cặn kẽ cô gái đó bây giờ ở đâu, làm gì, có được sang Hung nữa không. Thầy còn cất công lên Sứ quán trình bày: thầy đã đề nghị với nhà trường để thầy được bảo lãnh cho cô gái sang thực tập ở Hung, mọi chi phí thầy xin lo. Cuối cùng, Sứ quán thấy thầy vất vả lặn lội quá, đành bảo với thầy rằng cô gái đó đã đi lấy chồng. Thầy không tin, bảo rằng: "Cô ấy đã tặng tôi một chiếc cặp ba lá. Cô ấy là người rất dịu dàng". Hết ba năm, rồi năm năm trôi qua, thầy đành phải tin. Nhưng từ đấy, thầy bắt đầu có ác cảm với người Việt Nam, cho rằng đó là một dân tộc "nói dối". Các sinh viên Việt Nam học thầy đã nếm trải những giây phút "ngúng nguẩy", "chịu, không thể hiểu nổi" của thầy. Thi viết xong, đủ điểm mới được thi vấn đáp. Ai trả lời trơn tru sẽ được vinh dự tiếp nhận câu cuối cùng, câu quyết định điểm số tối đa. "Em là sinh viên Việt nam? Em nói chung thuộc bài. Rất tốt. Bây giờ, điểm số của em đã đạt 4. Nếu em muốn đạt điểm 5, tôi sẽ hỏi thêm một câu", thầy nhận xét. Chàng sinh viên nhờ các anh lớp trên truyền thụ cho, đã biết trước câu hỏi của thầy là gì rồi, nhưng vẫn không thể trả lời đúng, vì, quỷ tha ma bắt, câu trả lời có bao giờ đúng! "Em hãy cho biết, tương lai phát triển của ngành này là gì?". Vô cùng đơn giản. Câu tiếp theo là một lời khuyên chân thành: "Thôi, về nhớ học kỹ hơn nhé!".

Nhiều thầy giáo là sinh viên học giỏi được giữ lại trường. Nhưng trong cái "giỏi" cũng có nhiều cái "hâm". Các thầy giáo này yêu quý, cảm thông với sinh viên Việt Nam, chứ không như thầy giáo nọ. Một 'ông" thầy mãi không chịu lấy vợ, đến hôm sinh nhật lần thứ 28 của thầy, các sinh viên Việt Nam tặng thầy một bọc đồ sơ sinh, tã lót, khiến thầy đỏ mặt như gấc. Một thầy khác 3 lần vô địch Toán quốc tế (đều đạt điểm tối đa, cộng thêm điểm thưởng) quanh năm đi dạy mặc độc một bộ quần áo bò, vừa giảng bài, vừa tu sữa ừng ực. Bọn sinh viên cá cược nhau, có đứa bảo thầy có hai bộ thay đổi. Thằng kia lén bôi nhựa kẹo cao su vào phía sau quần thầy. Quả nhiên, suốt năm học, mùa đông cũng như mùa hè, lúc nào cũng thấy chiếc quần ấy. Thầy đã dạy nhiều thế hệ sinh viên Việt Nam và rất thích kiểu ra đề "năm ăn năm thua", "hoặc là nghĩ ra trong vòng 5-10 phút, hoặc là ngồi cả buổi chiều cũng không ra được". May mắn là sinh viên mình tỉnh táo, giải được. Thầy chì chiết mấy đứa Hung: "Đấy, chúng mày xem, bọn Việt Nam chúng nó đi học xa nhà, điều kiện không thuận lợi bằng chúng mày, mà chúng nó thì giải ra, chúng mày thì ngu lâu!". Buổi học cuối cùng, thầy không giảng bài mà diễn thuyết: "Tôi xin nói thẳng với tư cách một người thầy: trong 50 anh chị ngồi đây, giáo viên chúng tôi chỉ mong đào tạo lấy 1 người, thế là mừng lắm rồi. Cho nên, anh chị nào cảm thấy mình không theo được chuyên ngành này thì nên khẩn trương đi tìm việc khác, như thế có ích cho xã hội hơn". Cả lớp thảng thốt. Nay, sau 30 năm nghĩ lại, thấy thầy nói đúng. Nếu đã đào tạo được 30 chuyên gia cho nước Hung thì công lao các thầy lớn biết bao! Mấy bạn đã sang Hung 5 năm sau kể lại: thầy vào Đảng, sau đó thầy bỏ giảng đường, chuyển sang chơi... cờ vây, và đoạt chức quán quân Hung-ga-ri, rồi quán quân Châu Âu. Thầy tuyên bố: "Đến giờ, tôi mới tìm thấy chính mình!".


Vui văn nghệ nhân dịp ngày tết âm lịch

Sinh viên Việt nam so về tuổi hơn đứt bọn cùng lớp (mất hai năm học dự bị). Nhưng vẫn bị bọn nó coi như loại "trẻ con", cho dù mình đã cứng cỏi khai "Tao là katona". Quần mình sáng ra mặc vội, quên cài phéc-măng-tuya, đến lớp, đứa con gái ngồi đối diện điềm nhiên lấy hai ngón tay kéo hộ lên roạt một cái. Mình chỉ còn nước đỏ mặt lúng búng "Koszi!". Nó bảo "Szívesen!".

Giờ học thể dục, phải lựa chọn hoặc đá bóng, hoặc đấu kiếm, hoặc bơi. Môn đầu tiên khó nhằn vì chân bọn Tây cứng lắm, nó phang một chưởng mình đi bó bột là cái chắc. Môn thứ hai từ hồi cha sinh mẹ đẻ, đã biết cái gì đâu. Thế là chọn môn bơi. Sau khi ăn cơm trưa xong, quá Ngọ, bà giáo thể dục bắt phải có mặt ở bể bơi trên đảo Margit. Cởi quần áo, chạy quanh bể bơi 3 vòng. Sau đó, khởi động dưới nước 8 vòng nữa (mỗi vòng 50 mét). Đến lúc bơi thật thì hết hơi rồi, cứ lóp nga lóp ngóp, bị bà giáo chần cho đến nơi đến chốn. Những hôm tuyết rơi, bà giáo cũng không tha cho. Bơi được nửa giờ, đầu trắng toát như quấn băng tang. Cái nhiệt kế trong bể bơi chỉ 19 độ. Học kỳ sau, phải lọ mọ xin giấy chứng nhận "đúng là katona" thật, và làm đơn trình bày "chúng tôi phải tập thể lực và rèn đội ngũ trong doanh trại Petőfi quá nhiều rồi, đề nghị nhà trường xem xét chiếu cố cho miễn môn học thể dục", mới thoát hiểm.

Thỉnh thoảng, lớp tổ chức đi pích-ních. Có lần, một nhóm 20 đứa đi xuyên rừng, đến tối chui vào một cái lán canh rừng, tự đốt lửa lên sưởi. Một đứa con gái đố: "Đố bọn con trai biết, cái gì trên người bọn con gái nhậy cảm nhất?". Thấy vài đứa xấu hổ, nó bảo: "Cấm chúng mày nghĩ bậy bạ". Thì ra, đáp án là... cái mí mắt. Buổi đêm tuyết rơi, bọn nó lại bày trò con gái con trai ngủ sáp lưng lại, "thế nó mới ấm, chứ hai đứa đều con gái, hoặc đều con trai thì không ấm". Chúng nó nói đúng thật. May, chẳng xảy ra chuyện gì, vì đi ủng leo núi đạp tuyết cả ngày ướt sũng, mệt phờ râu trê, đặt mình xuống là ngáy như sấm.

Các bạn Hung trong lớp có tinh thần bảo vệ nhau rất cao. Một bạn gái xinh xắn học đến năm thứ tư thì chửa đẻ. Cả lớp đi dự đám cưới, quà tặng là một cái xe đẩy (mua đồ cũ). Cuối học kỳ, thầy giáo hỏi "Bạn gái Y. sao hay vắng mặt thế?", cả bọn trả lời quanh co, mãi về sau cũng bị "Nghĩa Lộ". Hôm thi, thầy bảo để bạn Y. sang năm thi, nhưng chi đoàn chúng nó không chịu. Chúng nó cho thầy xem Index của bạn gái đó: "Thầy thấy chưa, bạn này học cực siêu, chưa bao giờ phải thi lại môn nào". Thầy ớn quá, đành đồng ý cho thi. Hôm thi, bọn trong lớp khiêng cả xe đẩy và em bé đến. Chúng nó bảo "Mẹ cháu bị ốm, hôm nay cháu xin phép thi hộ mẹ". Thầy phì cười, bảo: "Thôi, chịu các cô các cậu rồi, đồng ý duyệt cho 3 điểm". Bọn trong lớp vẫn không chịu, đòi 4. Thầy bảo "Các anh các chị quá đáng lắm. 4 là 4 thế nào. Không đi học, không đi thi, cho 3 là tôi đã nhân nhượng lắm đấy". Bọn kia cùn, bảo: "Thưa thầy, bạn ấy mà bị điểm 3 thì ảnh hưởng tới học bổng (onsztondij). Bạn này vốn học khá, chưa bao giờ bị điểm 3. Đây, thầy xem, các môn khác ai cũng cho 4 hết cả rồi, còn mỗi môn của thầy thôi. Thôi, thầy hãy rủ lòng thương mẹ con bạn ấy với". Thầy không đồng ý, lũ sinh viên quái quỷ đành đưa ra chiêu cuối cùng. Có 4 đứa tình nguyện bớt điểm của mình dồn cho bạn gái đó để bạn từ 3 được lên 5, còn mình chỉ nhận 4 rưỡi. Thầy tức mình, nhăn nhó, rút bút ghi luôn điểm... 5, chả trừ điểm đứa nào. Đất không chịu giời thì giời phải chịu đất.


PhanHong

Wednesday, December 21, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI Kỳ 6: Chuyện đi Phiên dịch, nghe đài, xem TV và xem Phim

Đoàn 74/75 trong lần gặp mặt tại Hà nội năm 2004

Đời sống của anh em tại DOANH TRẠI PETŐFI cũng vô cùng phong phú như bất cứ ở đâu khi mà phần đa anh em đều còn trẻ và đang ở cái tuổi năng động nhất của cuộc đời. Thông qua các “chuyện…”, Phan Hồng đã mô tả sinh động những hoạt động của anh em trong đoàn mình (thường gọi là đoàn 10 người), của anh em ta một thời tại DOANH TRẠI PETŐFI. Trí nhớ và cách hành văn dí dỏm đã gợi lại rất nhiều kỷ niệm mà bản thân người đọc cảm thấy như sống lại cái thời của mình, của bạn mình trên đất nước mà nhiều người đều công nhận là “tổ quốc thứ hai”.

Nhiều anh em đã cho cả vợ con đọc các bài viết của Phan Hồng. Kèm theo một vài lời giải thích, câu chuyện đã trở thành “chuyện của bố thời nào”…

Chuyện phiên dịch

Đoàn 10 người một số lần vinh dự được phân công đi phiên dịch. Năm 1976, bác Giáp sang Hung (đi một loạt 3 nước) cám ơn sự giúp đỡ của bạn, đoàn 10 người được trưng dụng đi phiên dịch dự bị, dịch thô văn bản, tham gia đóng gói quà, hàng hóa, dịch cho con gái tướng Giáp đi shopping..., và mặc áo cổ cồn trắng đeo cà-vạt con bướm màu đen đi làm pincér bưng bê nem rán và rượu sâm banh ở trên sứ quán với thời gian tập huấn ít ỏi, đâu như chỉ 10-15 phút gì đó, ngay tại phòng khách sứ quán. Hiện, tôi vẫn còn giữ giấy mời của Đại tướng Võ nguyên Giáp (mời Honvéd Phan Phan Hồng) đến buổi tiệc hôm ấy. Hôm ấy, do đi giày mới trên sàn nhà bóng nhoáng, nhiều anh trượt chân suýt ngã. Mùa hè, thủ trưởng Bộ sang nghỉ mát, vài lần Việt Trung và Võ Mai được cử đi dịch cho bác Hoàng Văn Thái.

Lần đội Thể Công sang, hai người được phân công chia nhau đi dịch, mỗi người dịch hai tuần. Ngôn ngữ bóng đá không phải dịch mấy, vì là chuyên môn. Chủ yếu dịch chuyện "cơm áo gạo tiền": khi thì mấy cầu thủ Việt Nam muốn bán ít quần bò, khều các chú lính Tây ra phía sau nhà "giải quyết nhanh", khi thì cầu thủ khác muốn xin một ít quần áo cũ của Tây mang về cho các cháu bé ở nhà (khổ thế đấy!). Còn nhớ, có hôm Thể công đấu với đội bóng của một nông trường, có mấy chiến sĩ lái máy gặt đập liên hợp từ ngoài đồng chạy về, người bê bết bùn đất xông vào thay người. Có hôm, biết là Thể công đá với một đội hạng ba, các bạn Việt Nam ở thị trấn đấy vô tư hỏi "Anh ơi, tối nay TV có truyền hình trực tiếp không nhỉ?". Đang mải uống nước, phiên dịch suýt nghẹn. Đội Thể Công trẻ "đá kém", biết vậy nên Sứ quán tổ chức một trận giao hữu giữa sinh viên Việt Nam với Thể Công. Hôm ấy đá ở sân bóng đá trong Trường cao đẳng quân sự Zalka Maté. Thể Công thắng 7–1. Hết thắc mắc.

Cuối đợt dịch, anh em chắc mẩm sẽ nhận được thù lao bù đắp những hôm vắng mặt đi mê-lô (vì đ/c trung tá Tây đã nói trước như thế), ai ngờ, mỗi anh chỉ nhận được một hộp có hai cái bút. Hỏi lại, đ/c trung tá buồn rầu bảo "Tùy viên dặn chúng tao không được đưa chúng mày tiền, sợ chúng mày hư. Bút thì được, vì chúng mày đang là sinh viên, lúc nào chả cần bút!". Về sau, Cục đối ngoại của bạn xét thấy thương tình nên nhân dịp 22-12, có đưa xuống một tập tạp chí "Văn nghệ quân đội" và bảo chúng mày chọn lâý dăm ba bài dịch ra tiếng Hung để đăng báo "Néphadszereg", được hưởng nhuận bút. Tiéng Việt là ngôn ngữ đặc biệt, ngang với tiếng ả-rập, giá biên dịch những 22 phô-rinh một trang. Tất nhiên, dịch truyện ngắn không phải ngon xơi.

Lần đi dịch cho bác Chu Huy Mân, thủ trưởng Vũ chấn chỉnh Việt Trung "sao cậu để tóc dài thế?" thì ngay hôm sau, bác Vũ bị Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp phê bình trước đông người "Vũ này, mai cậu cúp cua đi nhé, cho nó giống anh em trong đoàn!". Lần đó, có một chú phiên dịch người Việt gốc Hung cùng đi. Tên Việt nam của hắn là Liên. Một buổi sáng Liên gõ cửa từng phòng, bảo "Mời các chú ra chiếm xe!", làm các thủ trưởng Tổng cục chính trị đang ngủ theo phản xạ quân nhân vùng dậy xỏ quần áo, cứ như là chạy báo động. Hóa ra, Liên dịch nôm từ Hung sang Việt từ "foglal helyet". Một bữa trưa, ngồi vào bàn ăn, thấy thực đơn ghi món "chân gà con chiên", ai cũng háo hức, nghĩ sắp được xơi đặc sản Hung đây. Lúc nhà bếp bưng ra, kiderult là món "đùi gà giò rán" phết thêm tí bơ, ai cũng tiu nghỉu như mèo bị cắt mất tai. Truy xét, lại là lỗi của phiên dịch Liên. Liên lắm mồm, kể chuyện có duyên. Liên kể, có lần đi tàu điện ở gần thành Vár bị hai cô gái Việt Nam dứng sau lưng bình phẩm "Thằng này có mái tóc đen dài, trông đẹp trai quá mày ạ!", Liên quay lại, làm mặt lạnh như băng trả lời "Thường thôi, các em ạ!". Mấy cô gái chưa đến ga vẫn tụt xuống vội vì "quê" quá. Thì ra, bố Liên vốn là trung tá QĐNDVN, mẹ là người Hung, đã ở Hải Phòng từ bé. Năm 1972 máy bay Mỹ ném bom rát quá, Liên đang học lớp tám đành theo mẹ về Hung học tiếp.

Lần đi dịch cho bác Chu Huy Mân để lại nhiều kỷ niệm. Làm giấy tờ, thủ tục trước 3 tháng. Từ vọng gác vào đến nhà khách Trung ương Đảng là... 10 cây số. Cuộc sống ở đó phải nói là vương giả. Hôm nào cũng có rượu ngon, nhiều món lạ. Một hôm ngồi ăn, các thủ trưởng nhà mình đề nghị thi kể chuyện tiếu lâm xem nước nào có tiếu lâm... bậy hơn. Tay trung tướng đi hầu cận bác Mân nhất trí, và đề nghị các bác nhà mình kể trước. Đến khi hắn kể xong câu chuyện tiếu lâm Hung thì bác Mân và bác Hiệp xua tay "bậy, bậy quá, đang ăn, thôi, không nên kể những chuyện bậy bạ thế này". (Bạn nào đăng ký sang thăm Hung cùng đoàn chúng tôi vào tháng 8 năm 2005, tôi sẽ xin kể hầu vào dịp đó). Một lần, bạn tổ chức cho bác Mân đi bắn hươu nai, không mang phiên dịch theo, mà mang hai xạ thủ nai nịt gọn ghẽ, trang bị súng săn có ống ngắm ngay trên nòng súng. Ba giờ đêm, xe u-oát chở đoàn săn và một con nai tơ về đại bản doanh. Nhà bếp bị khua dậy, bắc một chiếc chảo to, đốt bếp lửa ngoài trời, đổ dấm vào chảo, làm món nai nhúng dấm để ôn lại những ngày gian khổ trên rừng Trường Sơn.

Dịch cho thủ trưởng Sanh rất khó. "Này, Bô-đi..." với "Bô-đi này..." đều được dịch chung chung ra tiếng Hung là "Kedves Body elvtárs...". Cho nên, nếu suy luận: từ "này" của tiếng Việt là "đồng chí", thì Body elvtárs hết sức bối rối, vì từ đó lúc đứng trước, lúc đứng sau danh từ riêng, thật là loạn xì ngậu.

Một lần, đang ngồi trên tàu điện ngầm đọc quyển "Những ngôi sao thành Ê-ghe" tiếng Hung thì có một ông đứng tuổi người Hung đến bắt chuyện, hỏi sinh viên trường nào, hè đến có muốn đi phiên dịch không. Thì ra, ông này là Trưởng phòng quan hệ quốc tế của Công đoàn. Ông bảo, hè nào cũng có các đoàn Việt nam sang nghỉ hè, mày cứ ăn no ngủ kỹ chuẩn bị sẵn sàng, tao sẽ gọi điện thoại. Quả nhiên, hè đó có đoàn Việt nam khaỏng 40-50 người sang. Được tin tưởng giao cho cầm 10.000 phô-rinh, tiêu gì cứ tiêu, sau lấy hoá đơn về thanh toán. Một lần, xe đưa đoàn đi du lịch vùng Kecskemét, giữa đường thì lạc mất xe dẫn đường. Hồi đó không có điện thoại di động như bây giờ nên khó liên lạc lắm. Vòng xe lại hai chục cây số để tìm, không thấy, điện về Budapest, thấy bảo là không rõ xe dẫn đường đi đâu, thế là quyết định cứ đi. Buổi trưa vào một hầm rượu ăn chơi nhảy múa tưng bừng. Thuê cả nhạc sống. Đến 10 giờ đêm, đưa khách về Nhà nghỉ Công đoàn (gần Sứ quán), bọn Tây đang nóng lòng đợi. Bọn Tây hỏi "Sao lạc nhau, mày không đưa đoàn về Budapest ngay?". Trả lời tỉnh bơ "Họ sang đây là đi du lịch với nghỉ mát. Tiền thì có đây rồi, xe cũng có đây rồi, quay về làm gì?". Thằng Tây khen "Mày biết cách xử lý đấy!". Sau mới biết, bọn Tây báo công an phóng xe bủa đi tìm khắp nơi, chặn đầy đủ các ngả biên giới. Chắc nó sợ mình đưa anh chị em Việt Nam đi trốn! Lương trả cho phiên dịch nói chung khá "đậm", đâu như 600 phô-rinh một ngày. Mười hôm, kiếm được 6.000 phô-rinh.

Cái lần ấy, còn phải thay đổi họ tên vì xưa nay, sứ quán tự dành cho mình độc quyền chọn phiên dịch. Ai thân với với "Sứ" sẽ được Sứ dành cho đặc ân giới thiệu phiên dịch với bên Công đoàn. Thằng Tây bảo "những người sứ quán mày chọn hộ tao chán ngắt". Thế nên, bàn với thằng Tây khai tên là Tuấn, học Foldmérész (Địa chính) năm thứ ba (bên đó, đâu như có vài ba anh tên Tuấn). Phải tập phản xạ để ai đó trong doàn Việt Nam gọi "Tuấn ơi!" là kịp quay đầu lại được ngay. Khó phết. Mấy ngày sau, Sứ quán lùng sục bên ký túc xá Foldmérész ròng rã suốt ba bốn hôm, không sao tìm ra thủ phạm đã đi phiên dịch chui. Tuần sau, bọn Tây lại gọi đi phiên dịch cho đoàn... Căm-pu-chia. Chả là đoàn này ban đầu dự kiến dùng phiên dịch tiếng Pháp, nhưng hết mất phiên dịch tiếng Pháp, bọn Tây hỏi thì hội ấy nói là có biết tiếng Việt Nam. Thành thử, lại có cơ hội mê-lô phiên dịch thêm được ba hôm.

Chuyện nghe đài, xem TV và xem phim


Anh em ta rất thích xem TV, thậm chí cả chương trình thời sự. Anh Quang "già" thuộc làu tên và giọng của hầu hết các phát thanh viên trên đài phát thanh và đài truyền hình. Phát thanh viên của họ nói chung vui tính, có óc hài hước, không “đứng đắn", "nghiêm nghiêm" như bên mình bây giờ. Nghe đài để bổ sung vốn liếng tiếng Hung ư? Không phải. Anh em mình thích nghe nhạc đã đành, nhiều anh còn thích thu lại vào băng cối (hồi ấy chưa có CD, hay Internet, không có thì chết cả nút!), hay băng cát-xét. Phải chịu khó mua quyển danh mục phát sóng và đánh dấu lại, có hôm bận giờ lên lớp còn phải mất công đặt chế độ thu tự động, kẻo phí. Tiền mua băng cát-xét cũng phải bóp mồm bóp miệng vì tiêu thế tương đối "xa hoa". Hiệu bán đĩa hát ngoài phố của Hung có trang bị tai nghe, cho phép nghe thử. Những hôm đầu óc qua cuồng, cứ việc chui vào đó nghe nhạc ké.

Phim ảnh cũng là một kênh nâng cao trình độ tiếng Hung. Hè đến, thế nào "rạp chiếu phim" ở tầng hầm cũng chiếu một số bộ phim hay hay, như kiểu phim hề Sác-lô, phim này là phim tư bản nhưng không gây ảnh hưởng "xấu" đến "tư tưởng" của anh em. Còn nhớ lần đầu xem phim "Volt egyszer egy vadnyugat", ấn tượng mạnh đến nỗi sau này xem lại bằng các thứ tiếng khác, kể cả tiếng Mỹ, có cảm giác bọn này dịch lại từ phim của người Hung. Hay phim giả tưởng kể về một anh bạn táy máy nghịch chiếc máy thời gian, chẳng may bị quay về sống ở thế kỷ 17, bị bọn quan quân truy đuổi đến nơi, anh ta đứng chụm chân trên bờ thành chắp tay làm dấu thánh "a-men" và cúi lưng khom người làm động tác nhảy đại xuống đất. Ba chục quan quân gươm giáo đầy mình nhất loạt nhảy xuống, chỉ còn mỗi anh ta trụ lên trên tường thành cao vòi vọi cười khì khì. Một phim kể về chuyến du lịch của hai vợ chồng da trắng trong cái xe kéo theo công-ten-nơ. Bà vợ gọi "Các con ơi ra bố bảo!", tức thì một lũ năm sáu chú bé da đen lũ lượt kéo ra. Một phim nữa kể về một võ sĩ quyền Anh bị thua đã quyết tâm phục thù bằng cách tập luyện gian khổ như thế nào, mỗi sáng ăn 20 quả trứng sống. Đó hình như là bộ phim nói về võ sĩ A-li.

Loạt phim samurai (võ sĩ đạo) chiếu trên TV vào lúc 11-12 giờ đêm, xem xong đàu óc vấn vương rất khó ngủ. Có hôm chiếu phim ma cà rồng của Nhật, cô chị căm thù cô em lấy cái mặt nạ giả là ma đội và dọa cho cô em chết khiếp, không ngờ bị dính chặt vào da mặt, không sao gỡ ra được.

Loạt phim hài "Piere Doné Afrikában", "Piere Doné Hongkongban", "Piere Doné Azsiában"... khiến anh em cười đau cả bụng. Chú cảnh sát to béo ngồi phịch lên xích lô vẫy tay ra hiệu đi chơi (kết hợp theo dõi buôn lậu ma túy), làm chú Thái lan gầy gò cong đít đạp mãi không nhúc nhích. Cảnh tiếp theo chiếu cái bánh xe xích lô bon bon trên phố phường, nhưng ống kính máy quay cứ chiếu dần từ dưới lên trên: hóa ra, ngồi trên xích lô là chú Thái lan, còn người đang nhẹ nhàng đạp xích lô là... Piere Doné. Tại Thái lan, lúc Piere Doné vào chùa, ông bị gần một bọn gần chục nhà sư trọc đầu Thái lan (giả mạo) xông ra đá song phi tanh tách, như châu chấu đá voi. Hay, hôm ông huy động mô-tô ba bánh đuổi theo bọn tội phạm ở Nam Phi. Ông ngồi vào thùng xe, trỏ ngón tay thẳng về phía bọn tội phạm đang chạy trốn. Anh cảnh sát rồ máy, chiếc mô-tô lao đi, riêng chiếc thùng xe... ở lại.

Có phim trinh thám kể về một vụ án đặc biệt: kẻ giết người giấu nạn nhân vào cốp ô-tô, đem ném xác xuống biển và không để lại dấu vết. Sau, thám tử nhìn ảnh chụp gia đình và phát hiện ra nạn nhân bị chột mắt, phải sử dụng mắt giả. Ông ta bèn lấy một con mắt giả và vứt vào "cốp" của chiếc xe tên giết người, rồi giả vờ đấu tranh "Tại sao có con mắt giả trong cốp xe của anh? Có đúng anh đã giết người không?" Tên tội phạm non gan nên cúi đầu nhận tội. Sau, thám tử vào tù và nói với tên tội phạm rằng con mắt giả đó không phải là tang chứng, chỉ là tang chứng giả thôi, làm tên tội phạm kia uất quá, mắt đỏ ngầu.

Có phim chiếu về một con bạc ranh ma, sử dụng thủ đoạn khá tinh vi: buổi đêm, hắn treo lên nóc tòa nhà cao tầng ném sợi dây có móc sắt qua tòa nhà đối diện và trổ tài chuyên nghiệp đi trên dây, đột nhập vào nhà in cạo đi một vết nhỏ trên bản in kẽm lưng các quân bài "át" trong bộ tú-lơ-khơ. Từ đó trở đi, vào sới bài, hắn giả vờ giục các đối thủ chạy ra quầy mua một cỗ bài mới "cho nó khách quan", và hắn ung dung nhận ra dấu vết trên lưng quân bài, nên thắng nhiều lần.


Ảnh chụp tại hành lang tầng 2 trong dịp Thăm lại HUNGARY tháng 8/2005
Kỳ lạ nhất là có bộ phim trinh thám kết thúc "không có hậu", tức là anh cảnh sát bị tên tội phạm trèo lên một chiếc cần cẩu tít trên cao liên tục thả các bao thóc xuống vùi lấp anh cảnh sát trong nhà kho. Cuối phim, anh cảnh sát ngoan cường cứ lóp ngóp trong đống thóc khổng lồ, tay chới với và khuất hẳn. Người ta giải thích rằng nên có cả những phim như vậy, để nhắn nhủ ý thức công dân của người xem phim: Bạn ơi, hãy cảnh giác, trong cuộc sống không phải lúc nào chính nghĩa cũng thắng phi nghĩa!

Nói đến phim ảnh, không ai quên được các buổi chiếu phim "Decameron", "Húszadik század" (phải đăng ký vé trước cả tháng trời, và chỉ chiếu vào 11-12 giờ đêm), mà theo mô tả của một khán giả là "khi đèn bật sáng, bỗng thấy sau lưng mình một rừng orosz katonák".


Chương trình TV của Hung ấn tượng và phong phú. Theo một nghĩa nào đấy, thậm chí TV của ta bây giờ, dù đã nâng cao chất lượng, vẫn chưa đọ được với hồi đó (ta bị lạc hậu hơn 30 năm!). Chẳng hạn chương trình " Lehet egy kérdéssel tobb?" thông minh, trí tuệ và không có nhiều câu hỏi... lẩm cẩm như "Ai là triệu phú?" của VTV3.

Năm 2005 tại BME

PhanHong

Monday, December 19, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI kỳ 5: Chuyện tiếng Hung

Trong lần Thăm lại HUNGARY tháng 8.2005, đoàn đã đến thăm bà Giáo tiếng Hung

Tiếng Hung là thứ tiếng khó, học cho thạo quả là mệt lử. Có người bảo, nếu tiếng Nga có 6 cách, tiếng Tiệp có 7 cách thì tiếng Hung có tới...57 cách. Riêng cái công đoạn phát âm, nhất là các âm tròn môi (xíp-puê, truy-luếch...) đã làm khổ bao người. Anh em mình bị nhốt trong doanh trại nên nói cũng có phần không trôi chảy bằng anh em bên ngoài. Nghe thì có thể bổ sung bằng cách nghe tê-vê (không ai nói ti-vi như bây giờ) hoặc đài. Thế nên, lãnh đạo Phòng Tùy viên vẫn khuyến khích anh em ra phố, tập nói chuyện với... ông già bà cả.



Hồi đầu học tiếng có nhiều khó khăn vì chưa có tự điển Hung-Việt. Nhưng về sau, bất cứ anh nào mới chân ướt chân ráo đến Doanh trại Petőfi là được phát ngay hai quyển từ điển dày cộp bìa màu mận chín. (Từ điển do anh Trần Đắc soạn lúc trước là loại tạm thời, in đơn giản hơn, giấy mỏng, nhiều chữ Việt bị thiếu dấu). Cô giáo dạy tiếng Hung bảo, các ngài (maguk) hãy tra mỏi tay cho đến khi hai quyển tự điển này bị rách bìa thì thôi. Lúc ấy là lúc vốn tiếng Hung của các ngài đủ dùng. Ngày lên đường về nước, các học viên quân sự lại được Doanh trại kính biếu hai quyển từ điển mới tinh để mang về Việt Nam.

Nghe kể lại, có những sự nhầm lần chết người. Hết kỳ học ngoại ngữ, lớp trưởng thay mặt lớp cám ơn cô giáo đã "udvarol" cả lớp rất nhiều, khiến cô giáo luống cuống. Về sau mới biết anh này ham học, tra được từ "udvarol" là 'tan tinh" trong từ điển của Trần Đắc, vội nghĩ là "tận tình". Một anh khác hay dùng đài National bắt tin tức Việt Nam bị hết pin, thế là ra phố chui vào cửa hàng đồ điện, ung dung yêu cầu cô bán hàng xinh tươi cung cấp "pin", mà lại phải là "pin Nhật", chứ "pin magyar" thì anh ta không cần. Anh ta chia tân ngữ cho danh từ "pin" là "pinát". Còn phải nói, cô bán hàng thấy anh ta cứ câng câng yêu cầu, ngượng quá, đỏ bừng cả hai má. Cuối cùng, anh ta cũng mua được pin chạy đài, không phải thứ pin mà đầu óc "đen tối" của cô bán hàng đang nghĩ tới. Hóa ra là anh chàng nọ suy luận rằng từ "pin" nhất quyết không phải tiếng Việt, mà là tiếng quốc tế, nên cầm chắc là tiếng Hung thì nó cũng thế, tra từ điển làm gì cho mất công!

Cô giáo dạy tiếng Hung (sau lưng, anh em gọi là bà giáo) năm ấy 28 tuổi, người gầy gầy dong dỏng (có lúc nhịn ăn trưa vì nhận dạy 2 ca liền nhau, cũng có thể là giữ eo), thuộc loại "gái một con", thỉnh thoảng bị bọn lính Hung 18-19 "chíp hôi" trêu. Cô thẹn thùng, mặt đỏ như gấc, lí nhí rủa "đồ quỷ sứ!". Thế nhưng, ngày mai lại thấy cô trang điểm kỹ hơn và mặc một chiếc váy sáng màu hơn!

Có lần, cô giáo (tên đầy đủ là Somógyi Péterné) mời anh em học viên về nhà, đoàn trưởng phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo. Thấy không có hiện tượng gì có biểu hiện "dụ dỗ mua chuộc", anh em mới được đi. Đến nơi, cô giáo đã chuẩn bị thịt và hành tây, khoai tây, bánh mì, anh em ta thì đã gói sẵn món nem từ nhà, chỉ việc mở ra, mượn dầu và bếp nhà cô để rán. Bữa ăn tối ngoài vườn hôm ấy thật đáng nhớ.

Thầy giáo dạy Vật lý hay kể chuyện vicc (cười) cho cả lớp nghe. Trước khi kể, ngài cẩn thận mở cửa, ngó đầu ra hành lang quan sát, sau đó thụt đầu vào thì thào "Tiszta a levego!". Nghĩa là không có ai đang theo dõi xem thầy dạy môn Vật lý hay lại đi làm việc khác. Thầy hắng giọng, rủ rỉ kể về một cậu bé có cái tên là Móriszka, có bố làm ở bộ phận KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm) trong gumi gyár (nhà máy cao su). Anh em ngơ ngác, chả hiểu cười cái gì, thầy phải ra hiệu bằng tay bằng chân mãi mới "thủng". Hóa ra, nhà máy này chuyên sản xuất dụng cụ... kế hoạch hóa gia đình!

Chính ông thầy đã dùng ba ngón tay trên hai bàn tay minh họa, dạy cho các học viên quân sự một động từ không có trong từ điển: izélni. Càng thấm nhuần cái câu "nhất tự vi sư, bán tự vi sư".

Kỷ niệm đáng nhớ nhất về thầy là hôm thầy kể về chuyện thi cử của lứa học viên vừa học xong trên một năm. Thầy tả lại buổi thi cuối cùng, có đại diện Bộ quốc phòng Hung, đại diện Tùy viên quân sự Việt nam, đại điện Viện dự bị quốc tế... tham dự để đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Hung ở doanh trại. Thầy vận dụng chiến thuật sắp xếp học viên này vào trước, học viên nọ vào sau, chứ không đọc tên theo thứ tự abc. Thầy mong là Hội đồng chỉ xem qua qua, sau đó đứng dậy đi chỗ khác, nào ngờ hôm đấy Hội đồng 'trì" quá, ngồi suốt từ đàu chí cuối, không thèm đứng dậy đi uống nước. Thầy buồn rầu hạ giọng bảo "Y-uyên ò lam!", làm cả lớp thộn hết cả mặt, không ai hiểu cái gì. Một vài người nhanh tay tra từ điển, bị thầy khoát tay ra hiệu "đừng". Cuối cùng, thầy dứng lên làm điệu bộ, anh em mới hiểu thầy đang nói về một học viên tên là Lâm, học môn của thầy chưa được kỹ lắm, đang lừng lững bước vào phòng thi, khiến thầy thót tim.

Xem lại ảnh xưa.

Sư phụ dạy nhạc đã già, tóc bạc trắng, cắt cúp cua, là người khai tâm cho anh em ta một loạt bài dân ca Hung như "Virágom, virágom", "Az a szép, az a szép"... Cụ gật gật cái đầu hói, giơ tay đánh nhịp như nhạc trưởng (cái này Hoàng Sơn bắt chước cực giống), chậm rãi như bác Tôn Đức Thắng chúc mừng các cháu thiếu nhi ngày 1–6. Đặc biệt, cụ có đôi tai thẩm âm tuyệt vời. Trong bài "Virágom, virágom" có câu "Te engemet, én tigedet" được anh Dũng râu diễn giải cho những anh em mới sang là "tiếng Hung nó hay ở chỗ: không phải chỉ có tìm (keres), mà anh và em còn thực hành nhiều động từ khác nữa!". Nghĩ mãi nghĩ mãi, chưa hiểu thực hành cái gì?

Trong lớp học dự bị (Előkészítő)

Người Hung bày đặt ra nhiều câu đố hóm hỉnh, kiểu như :

– Đố biết, nước nào lớn nhất thế giới?
– ....???
– Nước Hung!
– ....!!!
– Bởi vì mày thấy đấy, bọn Nga nó lạc vào nước Hung suốt từ 1945 đến giờ đã tìm thấy lối ra đâu!
Hay một chuyện khác:
– Đố biết, ai là người dũng cảm nhất nước Hung?
– ....???
– Vợ "thằng" Farkas Bertalan!
– ....???
– Là vì cô ấy dám tóm đuôi chó sói!

Chuyện sau đây, tôi thấy cũng cười được:
– Cô cho mua một vé tàu hỏa!
– Anh đi đâu?
– Đi đâu cũng được, miễn là tàu sạch sạch một tí!

Xin chép ra đây vài bài hát Hung (nhờ anh em bổ sung thêm nhé)

Nehéz a boldogságtól búcsút venni.
Nehéz a boldogságtól búcsút venni.
Ma mégis én meg nem tettem.
Ha majd a mászik, kevésbé jó lesz.
Legfejebb rád emlékezem.

Nehéz a boldogságtól búcsút venni.
Lehet hogy én meg nem teszem.
Te hoztál tuzbe, te hagytál vizben.
én tolem nem fug semmi sem.

Mostanában annyi mindent mondanak terád.
Vigasztal a sok kedves barát.
Nem tudom hogy mi tortént meg nálam
Nem tudom, de bármi tortént, semmit meg nem bántam.

Nehéz a boldogságtól búcsút venni.
Lehet hogy én meg nem teszem.
Te hoztál tuzbe, te hagytál vizben.
én tolem nem fug semmi sem.

Gondolsz-e majd rám ?
Nem lehet, mégis a búcsúzás,
Csak te voltál nekem, senki más.
Elvitted álmomat, még látom arcodat,
Mindig kisért egy fájó gondolat.

Gondolsz-e majd rám ?

Ha elmúlt az éjjel,
Minden álmunkat, a hajnal tépi séjjel
Hazudsz hogy fáj, hogy most is fáj, a búcsúzás.
S hogy nem szeretél így, és senki más.

Gondolsz-e majd rám ?

Ha más csókját kéred,
Nem olelsz már át
....(Az édes karaidban)......
Hazudsz hogy vársz, hogy orokké vársz, csak engem vársz.
S hogy sem szereted is, a búcsúzást.

Tavaszi sél
Tavaszi sél vizet áraszt, virágom, virágom!
Minden madár társat kerest, virágom, virágom!
Te engemet, én tégedet, virágom, virágom!

Van már kis szék
Van már kis szék, csak lába kell,
Van már három, csak még egy kell,
Gyere be, gyere be, de gyere be!
Hadd kacsingassak két szemedbe.

Csirke csipog az ágy alatt,
Jaj, de régen nem láttalak,
Gyere be, gyere be, de gyere be!
Hadd kacsingassak két szemedbe.

Kicsi gyere velem csókot csendni
Kicsi gyere velem rózsát szedni.
Amíg el nem megy a nyár.
Kicsi gyere velem csókot csendni.
Míg van szérelem.

Kicsi gyere velem hegy csúcsára.
Onnan is repul madár.
Kicsi gyere velem csókot csendni.
Míg van szérelem.

Távolból jon felho
Meglátod utolér
Féherre festi a zold mezot.
Hova, a téli szél?

Kicsi gyere velem rózsát szedni.
Amíg el nem megy a nyár.
Kicsi gyere velem csókot csendni.
Míg van szérelem.

Kicsi gyere velem csókot csendni.
Míg van szérelem.



Az sép, az szép
Az sép, az szép, akinek a szeme kék, akinek a szeme kék.
Lám az enyém, lám az enyém, sửtét kék.
.............................................. babámnak............elég szép.

Az sép, az szép, akinek a szeme kék, akinek a szeme fekete.

Homok óra
Ulok a szóbában búsan egyedul,
és a fájó múltra gondolok.
Odakint az utcán, lassan fény dereng,
és az orán pereg a homok.

Nem tudom hogy elhiszed-e még,
Hogy a fajó szivem orokké tiéd,
álmaiban téged látlak, két karomban téged zárlak,
Nem tudom hogy elhiszed-e még ?

Ha majd egyszer drágám, nem bírom tovább
Ezt fájó bús emlékezést.
Elmegyek én akkor, tovább állok én,
Mert a szivem magányos szegény.

Tình ca du mục
......................................
Azok a szép napok
Csak arra gondolok
A tánc, az ének ...........
Az élet, oh, nehéz!
De gyozni kell, és kész.
Az ifjúság az jovotol nem fél.
(La la la la la la la)3

Kell hogy vár
...................................... haragszol rám.
...................................... gondolj majd rám.
Kell hogy várj, várj is meg !
Ne félj újra visszaửvửk.
De azt igérd, gyakran írssz,
így szerez egy kis ửrửmửt nekem.

Nézd, milyen szép az élet
Nézd, milyen szép az élet
Ránk kosszon a csilag fénye
.........................................
.........................................
Nyújcs hozzám a két kezed.
.........................................
(Oh, régen kerestelek, kutattalak
Nem tuttam, hogy merre kell indulnom
Ahhoz, hogy valahol, végre majd megtaláljalak)2.

Ne hagyj el soha...
Ne hagyj el soha a szóra tégedet szépbol immár
Lásd hogy neked is van számtalan kis hibád.
A rózsa tovise is megsúrja a kezed.
Az áldottnak fénytol is konnyes lesz a szeme.

Ha néha bántalak gondolj a szép napokra
Gondolj ...............................ra
.............................................
Hát elvigyázz, hogy ne hibázz !

Elmúlt egy nyár...
Elmúlt egy nyár
Azt hittem én
Hogy nap sugár
Csak az enyém

Az volt a nyár
Kifutottam
A nagy rétre
Lepkét fogtam

PhanHong

Wednesday, December 14, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI kỳ 4: Chuyện thể thao

Đội bóng đấy! Xịn chưa? Những anh em trẻ mới sang thường ngợp vì có nhiều thể loại "chơi thể thao" không biết nên chọn môn nào. 

Thể thao vua tất nhiên là bóng đá, chơi môn này đòi hỏi sức khỏe. Anh em mình chiều chiều ngồi học ngoại ngữ dự bị trong lớp đến gần tiết cuối bụng đói mềm, đầu óc mệt mỏi rã rời, thấy các chú lính tiêu binh sút bóng ầm ầm ngoài sân, lưới thép rung bần bật mà hốt. Không biết có quá lời không, nhưng ngay cả thời điểm bây giờ (năm 2005) xem các tuyển thủ Việt Nam thi đấu, vẫn không thấy những cú sút sấm sét và chính xác như kẻ chỉ như của các chú lính tiêu binh dạo nọ. Chắc không ai trong số các học viên quân sự Việt Nam dám trấn giữ khung thành cho các chú lính đó thử chân. Những cú sút vèo vèo xé không khí, khi đập phải viên gạch sẽ làm viên gạch văng đi vài ba mét là chuyện thường. Nên nói chung, chưa khi nào quân ta (dám) có ý định tổ chức một trận giao hữu bóng đá giữa QĐNDVN (quân ta) và quân Hung ở Petőfi. Khoảng cách thật xa, cứ như Bra-xin với đội Lào. Song, cũng không nên quá tự ti.



Năm 1975 đi nghỉ ở Miskolc, quân ta có tổ chức một trận đấu nảy lửa với đội Tây (học sinh sinh viên xen lẫn giáo viên thì phải) và thắng trong gang tấc. Năm 1978, doanh trại ta giao hữu một trận tơi bời, không khoan nhượng với HTI (Hadi Technikai Intezet). Hôm đó không hạn chế thay cầu thủ. Đội bạn dùng chiến thuật câu bổng vào đánh đầu. Có một cầu thủ đội bạn béo tròn, bụng phệ, nhưng xoay chuyển vô cùng khéo léo, gây nhiều khó khăn cho quân ta. Kết quả hình như hòa hai hiệp chính 2–2, sau đó hòa tiếp hai hiệp phụ 3–3, đá luân lưu họ thắng ta 5–4. Nhưng đó là kết quả tỷ số. Còn "kết quả" theo đúng nghĩa... kết quả, là hai bên đều... đi cà nhắc, khập khà khập khiễng không dưới hai tuần. Anh Hai Phương nổi tiếng chém đinh chặt sắt cũng lắc đầu ngán ngẩm phê bình đội bạn chơi "thật" quá. Năm 1979, 1980 gì đấy, đi nghỉ ở Kilián telep, quân ta đụng với một đội nữ vô danh tiểu tốt và bị thua liểng xiểng ngay bên bờ hồ Balaton xinh đẹp. Szégyenletesen! Đâu như 8–1 thì phải. Khổ, không phải là các chú nhường các cháu. Các nữ cầu thủ trẻ măng tầm U-18, về hình thức không thể gọi là "szép", hay "csinos", vì to như trâu mộng, da bóng nhoáng, chịu va đập còn hơn cả đội Sông Lam Nghệ An, đã trình diễn lối đá xe tăng càn lướt liên tục, ào ào xông tới bất kỳ điểm rơi nào của trái bóng tròn. Thì ra, đội bạn vốn là đội bóng ném, hôm đó nghỉ tập thấy buồn tình quá, đành rủ a vietnami gyerekek thi đấu chơi. Quân ta mới đầu cũng tưởng ngon ăn, chắc mẩm khi giáp lá cà thì phái mày râu chỉ có...thắng trở lên (đá hàng rào thì công nhận thua phái yếu, vì họ không cần che chắn phía dưới). Có ai học hết chữ ngờ!

Xem bóng đá cũng là một cái thú của toàn thể anh em. Giải vô địch Hung sôi nổi ra phết. Thủ đô Budapest có mấy đội nằm trong vòng quan tâm của anh em là Ujpesti Dózsa (như kiểu đội Công an), Honvéd (như kiểu đội Thể Công), và Ferenváros. Các cầu thủ một thời là Nyilasi, Torokcsik, Fazekas... Hôm nào có các trận derby là Câu lạc bộ tầng một lại ồn ào như chợ vỡ, căn phòng đầy ắp những giọng khích bác trêu trọc lẫn nhau. Song, cũng như ở Việt Nam, khi nào đội tuyển Hung-ga-ri với trang phục đỏ, trắng, xanh ra sân thi đấu quốc tế, mọi người lại sẵn sàng dẹp bỏ mọi "hiềm khích" để nhiệt tình ủng hộ cho "đội nhà". Quân nhạc cử bài quốc ca "Isten áldja meg a magyart..." là trong tim lại thấy nôn nao, cứ như trong huyết quản mình đang có một dòng máu magyar tuôn chảy không bằng!

Có lần, nghe bạn bè rủ rê, liều thử ra sân xem tận mắt một chuyến xem nó như thế nào, thấy tàu điện ngầm chật ních, huligán đông quá phát sợ. Bọn nó dọa đánh, bắt mình phải thay áo khác, nếu trông thấy áo của mình có màu sắc của đội đối thủ, hay vào trận chợt thấy một trận mưa vỏ chai thủy tinh bay rào rào trên đầu, đội mũ bảo hiểm chưa chắc đã an toàn tính mạng, từ đấy cạch, chẳng bao giờ dám bén mảng tới sân nữa. Một mùa hè may mắn, anh em mình tới sân vận động coi bóng đá để... lĩnh tiền, có ai còn nhớ không? Chả là hồi ấy điện ảnh Hung đang quay một bộ phim về bóng đá, mời rất nhiều danh thủ tầm cỡ quốc tế tham gia đóng. Những cảnh quay vô-lê cận thành quay đi quay lại hàng chục lần (đá kém nhỉ?), mặc dù đã có một chú dùng tay tung nhẹ quả bóng lên, danh thủ chỉ việc bay người trên không trung sút bóng vào lưới. Anh em mình đóng vai khán giả. Đang mùa thi, một số chú giở vở ra ôn bài trên khán đài, bị các chú đốc công nhắc nhở liên tục, vì nhìn từ xa, khán đài gì mà trắng toát. Khi ống kính lia đến đám khán giả giả vờ, cả bọn phải nhổm người dậy hò reo cổ vũ nồng nhiệt. Cái bọn đóng khán giả ngồi khán đài A ăn mặc sang trọng, môi son má phấn, mũ mão điệu đàng, cử chỉ duyên dáng, nhận thù lao cao hơn anh em mình. Đi đóng phim hơn một tuần, mỗi ngày kiếm đâu 10 đô thì phải. Kinh nghiệm là phải thủ 2 cái áo phông khác màu theo. Đến nơi, nó hô giật giọng "hôm nay mặc áo trắng!", bao nhiêu chú mặc áo màu đậm tức tưởi ra về, thắc mắc "rõ ràng hôm qua mặc áo đen mới được vào". Mấy chiến sĩ doanh trại Petőfi tụm lại một góc cười mỉm "készen vagyunk", và lôi áo trắng ra mặc, sau đó chen lấn qua cái ba-ri-e vào sân. Muốn tiện hơn nữa thì mặc cả áo đen và áo trắng, không đúng màu thì chỉ việc lột bớt một áo đi.

Không ai khẳng định là trong doanh trại không có cá độ. Còn nhớ, một lần đài truyền hình Hung tổ chức truyền trực tiếp một trận đấu bóng đá quốc tế quan trọng, nhưng hôm đó do "trục trặc kỹ thuật" nên cho dù anh em ngồi đã nóng cả đít trên những chiếc ghế cứng vỏ bọc xù xì màu đỏ trong Câu lạc bộ "xem" nhạc không lời chiếu chán ngắt trên màn hình, 10 phút sau mới bắt được tín hiệu. Đến khi trận đấu còn 10 phút thì kết quả là 2–1. Một anh chép miệng "Thể nào cũng gỡ được hòa", làm các anh khác nhao nhao phản đối. Anh bạn nọ to mồm "Vậy, ai dám cuộc với tôi đây?". Hội người kia sùng sục đòi cuộc. Thế là cuộc. Có trọng tài hẳn hoi. Về sau, anh bạn kia thổ lộ bí quyết thắng cuộc là do anh ta nghe đài cắm qua tai nghe (cũng truyền trực tiếp) nên biết kết quả rồi, còn truyền hình bị muộn 10 phút nên "mang tiếng là truyền hình trực tiếp, mà không phải là trực tiếp".

Chạy là môn tập bổ trợ của bóng đá. Sáng sớm hoặc chiều muộn, thường thấy các bóng đầu đen mặc áo thể thao màu xanh tím rủ nhau chạy quanh sân xi-măng gần lớp học, quanh sân vận động trên đồi, hay chạy sang sân Intézet, chạy lên đồi. Kể cả những hôm tuyết rơi trắng xóa, vẫn thấy có người cần mẫn chạy.

Môn thể thao đòi hỏi sức bền và sự khéo léo, đôi khi cả sự ranh mãnh (ravasz) là bóng bàn. Trong doanh trại Petőfi có nhiều cao thủ. Trước kia và sau này thì không biết hết, còn những năm 1975-1976 thì có anh Dũng râu, anh Lâm và nhiều "chiến tướng" khác. Sau vài hiệp biểu diễn, nếu các chú nào hơi biết biết một tí và có tính hung hăng sẽ bị các "đại ca" gạ đấu bia chai Világos, với 1 trong 2 điều kiện tưởng chừng "ngon như óc chó": hoặc là, các đại ca chỉ được dùng 1 mặt vợt (dùng mặt vợt kia bị tính điểm luôn!), hoặc là, các đại ca được dùng 2 mặt vợt, nhưng phải chơi bằng tay trái (các đại ca đều thuận tay phải). Nói không ngoa, các đại ca đánh bóng bàn suýt đạt đến trình độ "hai tay như một". Hôm ở Miskolc quân ta giao hữu với sinh viên Tây, lần lượt thắng tưng bừng từng chú một. Sau, bọn Tây chạy đi điều một thằng "chuyên nghiệp" đến, nó đánh cho quân ta "lên bờ xuống ruộng". Giao hữu với bên ngoài, chúng ta cũng không lại, vì có một sinh viên da trắng trẻo tên là Việt hạ được anh Dũng râu.

Còn nhớ hồi đó doanh trại mình có lập một đội bóng bàn đi thi đấu giải hạng B thành phố. Có 32 đội, đội mình xếp thứ 2, vinh dự quá. Một trận thua nhớ đời là thua đội "tàn tật": một ông què chân, một ông chột mắt, và một ông cụt tay. Đội này dùng vợt lanh hay gỗ gì đó nên các cú xoáy của quân ta bị vô hiệu hóa hết. Ta tưởng bở, xoay qua chiến thuật bỏ nhỏ, bị các "lão già" vụt cho đen đét, không kịp trở tay. Một lần khác, đội ta dự kiến đánh biểu diễn với đội tuyển nữ trẻ Hung U–21, nhưng rõ ràng ta đánh yếu quá nên bỏ. Hôm đi đánh giải ở trường Muszaki, vào vòng 8 có đến 4 chú Việt Nam, song vào vòng tiếp theo rơi rụng hết. Còn thi đấu ở HTI thì mình thắng "quân địch", chỉ đơn giản là nhờ xác-vít xoáy, đội bạn lúng túng không đỡ được. Một đội bạn bảo "Nếu chúng mày không giở xoáy thì chưa chắc đã ăn được chúng tao", nhưng sau đó chịu vài ba đường phát bóng kiểu tên lửa và giật trái giật phải lia lịa thì đội bạn tâm phục khẩu phục xin hàng ngay. Nhớ nhất là cái đận Tuấn "còi" bỏ nhỏ làm nghệ sĩ vi-ô-lông Khắc Huề xoài người đỡ bóng bị gãy ngón tay út, bó bột mất gần một tháng. Những trận đấu bóng bàn của đội tuyển Hung mà hạt nhân là bộ ba Jónyer, Klampár, Gergely được anh em reo hò cổ vũ nồng nhiệt. Jónyer chơi quả đôi công bên phải tuyệt vời, Gergely có quả trái rất "điệu", nhiều lần móc bóng từ gầm bàn lên (!?), Klampár thì công thủ toàn diện, có quả vẩy sát lưới trên mặt bàn vô cùng kellemetlen, khó bắt chước.

Môn thể thao không đòi hỏi sức bền và sự khéo léo, song vẫn đòi hỏi sự ranh mãnh, là cờ tướng và cờ vua. Về cờ tướng, Hoàng Sơn hồi đó làm bá chủ ở doanh trại Petőfi. Anh Phú đánh lối... ông già, nghĩ hơi bị "đầu lâu", nhưng chắc như cua gạch, đôi khi đầu óc đãng trí để tít trên tầng mây xanh tới mức bị đối phương ăn cắp mất xe, mà mắt vẫn nhìn ra vô cực, còn miệng thì lẩm bẩm than thân trách phận: "Quái, mình mất xe hồi nào nhỉ?". Anh Võ Kim nghiên cứu sinh đánh cũng tốt, nhưng vào chung kết bị Hoàng Sơn bóp cho ra bã. Những trận giao hữu, anh Kim sắp thắng đến nơi, mũi đã nở to, mắt hấp háy hy vọng tràn trề thì bỗng... mất điện đột ngột, và ai đó đã nhanh tay xóa luôn bàn cờ, khiến tình thế xem chừng bất khả kháng, đành phải xếp quân đánh lại từ đầu. Cờ vua được ưa chuộng vì hồi đó Hung đoạt chức vô địch Ô-lem-pích.


Bâng khuâng nhớ lại ngày nào, nơi đây. 

Các anh lớn tuổi "khoái khẩu" món bóng chuyền. Nếu doanh trại có độ 6 ông Lê Khôi thì thi đấu đây đó "kiếm ăn" được. Anh em trẻ cũng được khuyến cáo tập môn thể thao này. Môn này đòi hỏi sức bật. Nhưng chơi không cẩn thận, khi nhảy lên giơ tay chặn bóng sát lưới (một động tác xem trên TV thấy đẹp mắt và "có vẻ dễ thực hiện"), dễ bị thụt hẳn ngón tay vào lòng bàn tay, đâm ra khiếp, không dám tập. Anh Khôi đã có lần chấp 6 tuyển thủ trẻ, bị điều lên điều xuống thở phì phò, hoa mắt, đành giơ tay xin phép trọng tài hổn hển nói "Khôi ra, Khôi vào". Nhìn cho kỹ, trên chiếc ghế sắt cao cao sát cột lưới, có bóng dáng ông trọng tài nào ngồi đâu!

Môn bổ trợ, "thư giãn" của bóng chuyền là tập xà đơn xà kép, và leo dây. Bãi tập thể thao của lính Tây có cái dây thừng to bằng cổ tay. Anh em mình ít ai leo hết chiều dài sợi dây, mà hay tập ke bụng. Lính Tây, có thằng leo lên leo xuống thoăn thoắt.

Tập tạ cũng được ưa chuộng. Mỗi tầng có một đôi tạ tay. Anh em ta đóng ghế gỗ trông như cái mễ kê giường đầu cao đầu thấp. Chủ yếu tập các động tác: hai tay cầm hai quả tạ giang tay ra cụp tay vào (đứng thẳng hoặc nằm trên ghế tập), hay cầm tạ úp bàn tay và ke ngang 90 độ, hay tập bắp tay bằng cách co tay cho bắp nổi chuột, tay trái mỏi thì đổi sang tay phải... Có anh còn cho tạ lên bắp đùi và nhún lên nhún xuống. Ngoài tạ tay, còn có tạ nâng, anh em hay tập gánh. Anh nào cúi gập người, cong mông, lưng không động đậy, tay nhấc lên nhấc xuống quả tạ 30 kg vài chục lần xứng đáng là bậc cao thủ! Tập tạ chăm chỉ chừng vài ba tháng, thấy kết quả ngay. Bổ sung cho tạ là kéo dây lò xo. Thường, lò xo có 5 dây. Nặng quá không kéo được, anh em ta phải tháo bớt 2 dây và tập dần dần, đến khi nào kéo thấy "nhẹ nhàng" thì mới móc thêm dây vào. Hai tay kéo dây lò xo cùng lúc là một kiểu tập. Kiểu khó hơn là một tay dang thẳng ra giữ lò xo, còn tay kia kéo ra kéo vào như anh Lê Khôi hay kéo ắc-coóc-đê-ông.

Động cơ tập tạ và tập kéo dây lò xo thì nhiều. Tập để có một thân hình đẹp, bụng nổi múi và tay nổi chuột mỗi khi diện áo phông ngắn tay mùa hè. Tập để đến kỳ nghỉ phép còn...xách va-li. Chả là hồi đó về phép theo đường tàu hỏa, đồ đạc mang về lỉnh kỉnh toàn là xích, líp xe đạp, máy khâu cũ nhãn hiệu Singer, đài và máy quay đĩa Ri-gôn-đa... Một đống những sắt với thép, ai không tập, khó lòng mang vác được.

Một số môn thể thao được anh em mình ưa chuộng, nhưng trong doanh trại không có điều kiện tập tành, phải đi nơi khác.

Trước tiên là môn bơi. Anh em chủ yếu đi bơi ở bể bơi trường Bách Khoa. Bể bơi này nhỏ, nhưng mùa đông có nước nóng. Vả lại, trong bể bơi có một số cao thủ nên đến đó học mót kỹ thuật bơi, không mất tiền. Học mãi mà không học nổi môn bơi bướm. Bể bơi trên đảo Margit hơi xa, thi thoảng mới rủ nhau đến đấy.

Sau những giờ lao động mệt nhọc, ta có thể đến nhà tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ (torok furdo). Ngay sát chân cầu Erzsébed có một cái, biển đề Rolyal hẳn hoi (nhà tắm Hoàng gia). Trong nhà tắm có nhiều bể ngâm và sauna (phòng hơi) với nhiệt độ khác nhau: 60 độ, 50 độ, 45 độ... Cái sợ nhất ở đây là có rất nhiều chú pê-đê lao ra cười nhăn nhở và thò tay sờ...chim.

Môn trượt băng cũng có thời lên ngôi. Ngày đầu tập, bị ngã dập mông là cái chắc, nhưng đi độ 2 tuần là thấy ham.

Môn đi mô-tô không phải thể thao, nhưng cứ tạm kê vào đây. Hôm nào trời nắng ráo, các anh lớn tuổi lại mang xe Mô-kích ra sân xi-măng tập đi. Những lính mới (újonc) thế nào cũng ăn đòn: để số 1, ga mạnh quá, thế là xe dựng đứng lên như con ngựa bất kham.

PhanHong

Monday, December 12, 2005

DOANH TRẠI PETŐFI Kỳ 3: Chuyện nấu cơm cuối tuần và Đi Melo của lính

Ngày 29 tháng 7 năm 2005, sinh hoạt CLB trước khi đoàn đi thăm lại HUNGARY. Được thay bằng ảnh lần đầu tiên VNKATONAK họp mặt đông đủ, các đoàn lên tự giới thiệu. Đoàn VK67.

Ngày 29 tháng 7 năm 2005, sinh hoạt CLB trước khi đoàn đi thăm lại HUNGARY Những ngày nghỉ cuối tuần, nhà bếp nghỉ không có ai nấu nướng, nên học viên quân sự có hai lựa chọn: hoặc lĩnh đồ ăn nguội, hoặc tự nấu lấy (được nhận tiền đi chợ). Người châu á ăn nguội vài ba bữa đầu tiên thì thích, nhưng sau đó thấy "tra tấn" ngay, bởi trong lúc xung quanh người ta ăn uống có hội có hè, nâng ly tán tụng, húp húp gặm gặm, cải thiện, mình lại lầm lũi ăn bánh mì, pho-mát, pa-tê, không thể chấp nhận được. Mô hình trong doanh trại Petőfi thường là 3-4 người tự tập hợp lại làm một hội nấu ăn: mua xoong nồi, phân công nhau mua gạo, mì, thực phẩm...



Chuyện nấu cơm


Đi bộ đội có nhiều phiền phức, song cũng là môi trường phát triển tốt cho thanh niên. ít nhất là xét về mặt nấu ăn.

Những ngày nghỉ cuối tuần, nhà bếp nghỉ không có ai nấu nướng, nên học viên quân sự có hai lựa chọn: hoặc lĩnh đồ ăn nguội, hoặc tự nấu lấy (được nhận tiền đi chợ). Người châu á ăn nguội vài ba bữa đầu tiên thì thích, nhưng sau đó thấy "tra tấn" ngay, bởi trong lúc xung quanh người ta ăn uống có hội có hè, nâng ly tán tụng, húp húp gặm gặm, cải thiện, mình lại lầm lũi ăn bánh mì, pho-mát, pa-tê, không thể chấp nhận được. Mô hình trong doanh trại Petőfi thường là 3-4 người tự tập hợp lại làm một hội nấu ăn: mua xoong nồi, phân công nhau mua gạo, mì, thực phẩm... Chiều thứ bảy, căn bếp với khoảng 10 chiếc bếp điện đỏ rực chật ních người. Nhiều anh cẩn thận, 2 giờ chiều thứ bảy đã "chiếm chỗ", thì có bếp để nấu thoải mái, nhưng bù lại, sẽ không được nghỉ ngơi, xem ti-vi hay chơi thể thao. Những anh nào tính hơi phớt đời thì đợi mãi đợi hoài, đến 8 giờ tối chưa chắc đã đến lượt. Lúc ấy, bụng đói ngấu, phải ăn tạm miếng bánh mì phết bơ. Khổ hơn là khi có bếp rồi thì quanh cảnh gian bếp bừa bộn bẩn thỉu, ngổn ngang như một bãi chiến trường, nước nóng có khi hết sạch, thực phẩm để trong tủ lạnh trên tầng đã "không cánh mà bay". Nấu nướng, ăn vội ăn vàng xong thì lại mất xem phim. Thế nên, giải quyết mối mâu thuẫn đó sao cho trọn vẹn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Chưa kể, chuyện ăn uống thứ bảy chủ nhật không đơn thuần là tẩm bổ sức khỏe, mà nhiều khi là đối ngoại, nhất là tiếp khách bạn bè, người quen.

Anh em trẻ mới sang ít chịu tìm hiểu thường hay mua đồ ăn đắt tiền như thịt bò phi-lê, tim lợn, thịt nạc thăn, đùi gà. Những "ma cũ" biết cách mua xương ức gà (mellcsont), cánh gà, chân giò (csỹlok), rau chua (spenot)... ăn vừa đủ chất vừa đỡ tiền (ninh thoải mái, không phải trả tiền điện). Các kỳ nghỉ hè, nghỉ đông, anh em ta đi hái cà chua, đỗ vàng, bắp cải, dưa chuột... đem về đua nhau cho vào lọ, muối ăn dặm thêm với cơm, bánh mì. Anh em còn phát hiện một số loại rau dền mọc "hoang dại", hái về luộc hoặc nấu canh rất đậm đà hương vị quê hương (chiêu đãi các bạn gái thì "bố tướng"). Có lần gặp mấy bà già người Hung, các bà hỏi "Bọn mày lấy thứ rau này về làm gì?". Quân ta nhanh trí đối đáp "hái về cho thỏ ăn".

Ý thức tiết kiệm hiện ra rõ nét trong sinh hoạt thường ngày. Cũng phải thôi. Những người lính đã trải qua lửa đạn chiến trường, chịu nhiều đói rét gian khổ khi được quân đội đưa sang Hung ăn học tự nhiên thấy "sướng quá" và càng thương những người thân của mình đang ở Việt Nam, nên bớt mồm bớt miệng được chút nào để mua đồ mang về (hoặc gửi về) tốt chút nấy. Trong quân đội có chế độ hai năm được về phép thăm nhà một lần. Trên giấy tờ không ai ghi "về phép thăm nhà", mà là "về nước học chính trị quán triệt Nghị quyết". Đó là quyền lợi mà các sinh viên, nghiên cứu sinh bên ngoài phải ghen tị.

Thế nên, đã xảy ra "sáng kiến" bắt chim bồ câu vặt lông nấu cháo, sử dụng toa-lét làm công cụ giật nước "phi tang", vì người châu Âu vốn rất ghét những ai ăn thịt chim hòa bình. Trên gác có căn phòng nhỏ dùng để phơi quần áo, thỉnh thoảng chim bồ câu hay rúc vào trú mưa nắng. Có đôi tận dụng phòng này làm nơi xây tổ ấm, đẻ trứng luôn. Thế là, đợi khi bầy chim con ra ràng, anh em ta "bí mật bất ngờ" cho cả vào nồi nấu cháo tẩm bổ sức khỏe. Thứ này đỡ mất công vặt lông. Lâu ngày ăn mãi đâm nghiện. Hết chim nhi đồng, anh em ta chuyển qua xơi chim nhớn. Khan hiếm chim bay vào, anh em ta phải lùa chim bằng cách mở tung cửa sổ buổi đêm và phát huy sáng kiến rắc vụn bánh mì nhử chim.

Như trên đã nói, việc dung hòa giữa ăn đồ nguội và ăn đồ nóng đòi hỏi nghệ thuật nấu nướng trình độ cao, không phải ai cũng lĩnh hội được, nên cũng có người làm việc đó một cách phiên phiến, "cho qua luôn". Điển hình là anh H. Món mì ống chua ngọt chế biến kiểu hổ lốn "Đông Tây kết hợp" rất khó thưởng thức của anh đến giờ chắc nhiều người vẫn còn nhớ. Tuy vậy, về mặt sức khỏe, anh H. là một trong các lực sĩ hiếm hoi của Việt Nam đoạt Huy chương vàng môn bơi lội Đại học kỹ thuật Bu-đa-pét nhiều năm liền, xếp trên cả những chú trâu nước vai u thịt bắp to cao lực lưỡng quốc tịch Hung-ga-ri.

Kinh nghiệm nấu ăn tập thể cho thấy bạn nên sở hữu ít nhất hai chai nước mắm. Một chai dùng thường ngày, một chai chuyên dùng để ngoại giao, ai lỡ xin thì rót cho họ tí chút.


Chuyện mê-lô


Ban đầu, trong doanh trại Petőfi không có chuyện mê-lô mê leo, bởi hình ảnh một con người mồ hôi nhễ nhại bán sức lao động không phù hợp với biểu tượng một chiến sĩ anh hùng. Sau năm 1975, cả Việt Nam ào ào khí thế thi đua lao động, nhưng số người làm thật thì ít, làm khơi khơi thì nhiều, nên tổng thu nhập quốc dân không tăng, đời sống nhân dân sút kém.

Tin tức nước nhà qua những lá thư gửi qua bưu điện tác động không nhỏ tới tâm tư anh em trong doanh trại. Đâm ra từ Ban chỉ huy Việt Nam đến từng người đều náo nức mong đi lao động kiếm tiền. Bên ngoài, Sứ quán không cấm sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam đi lao động (có cấm cũng chả được), nên những anh em đó khá rủng rỉnh. Lãnh đạo sợ khi có nhiều tiền, con người ta dễ có tư tưởng ăn chơi, hưởng thụ, bỏ bê học tập công tác.

Ban đầu, Ban chỉ huy (đời mới) quyết định các đoàn được phép đi mê-lô, song "có chừng mực", tức là: không nhận những việc quá nặng nhọc (có thể gây gãy xương sống), quá bẩn thỉu (quét rác, rửa hố xí), quá nhếch nhác (cạo râu cho người chết trong nhà xác), không được làm gian dối (vào nhà máy chui vào một xó ngủ, cuối ngày dậy lĩnh tiền), đảm bảo an toàn lao động (vì có anh sơ ý bị máy nghiến đứt ngón tay, bạn phải bồi thường)... Nói chung, các hình thức lao động quá phong phú, các quy định không bao trùm hết được.

Chụp hành lang bên trong tòa nhà.
Phổ biến nhất là đi hái hoa quả. Mùa hè, ở Hung có những cánh đồng trồng đào, đào vàng, ri-bi-zờ-li (ribizke) bao la bát ngát. Mùa thu, mùa đông có những cánh đồng cà chua, đậu vàng, bắp cải, nho, táo... cần thu hoạch. Anh em ta phải dậy từ tờ mờ sáng, chuẩn bị đồ ăn đồ uống, đi ô-tô buýt, xe điện bánh hơi, tàu điện ngầm, thậm chí tàu hỏa... để đến kịp chỗ làm. Mọi người nhận các khay gỗ và hái quả, đến chiều sẽ có "đốc công" đến cân ở từng thửa ruộng. Người Việt Nam mình sức yếu, nhưng "cái khó ló cái khôn". Do tinh thần kiếm tiền rất hăng nên anh em chịu khó phát huy sáng kiến, lắm hôm mấy chú Tây cao to cũng tham gia mê-lô chỉ còn nước trố mắt nhìn vì năng suất của anh em mình "kinh khủng" quá. Hái đào hay hái táo, ta dùng một cái vỏ chăn đỡ phía dưới và cử một người "thấp bé nhẹ cân" trèo lên đu cành. Quả rụng cứ gọi là lộp bộp. Hái ri-bi-zờ-li, quân ta áp khay gỗ vào bụi cây, sau đó dùng gậy gỗ quật túi bụi theo kiểu "giáp lá cà". Roạt, roạt, roạt... ba phát đập, thế là đầy một khay. Dùng tay hái rón rén từng quả một có mà đến mùa quýt. Các sáng kiến không phải được phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng biết, mà phải học mót, học lỏm lẫn nhau. Học không đến nơi đến chốn, thao tác sai, quả nát bét, không đạt yêu cầu về chất lượng, buổi chiều, đốc công chửi cho rát mặt. Thường, anh em ta hay làm theo nhóm và có phân công công việc "khoa học": ai đi lấy khay, ai đi theo dõi nhóm khác, ai đi "xí phần" các luống có nhiều quả, giờ nào thì nghỉ ăn trưa... Cũng có một số tiểu xảo được giở ra, như: níu kéo cân khi người ta cân "sản phẩm" của mình, nhét thêm vật nặng vào giữa các khay hoa quả, cân xong rồi mắt trước mắt sau bê khay ra cân thêm lần nữa nhân lúc Tây lơ đãng... song các kiểu ăn gian đó không "có đất" tồn tại quá hai lần. Cơ bản vẫn là phương pháp lao động. Sau mỗi mùa hè, anh em ta đen cháy, khét lẹt.

Những hình thức mê-lô khác như đi phụ giúp xây dựng, xúc cát, trộn vữa, đổ bê tông, đóng trần, khênh cột điện, đào bể bơi ngầm,... thì quân ta không lại được Tây. Tám anh Việt Nam khỏe mạnh (đã tập tạ vài ba năm) lặc lè khênh một cột điện. Hai thằng Tây đứng nhìn cười khẩy, bảo "thôi, chúng mày tránh ra", rồi hai thằng cắp nách cột điện đi băng băng.
Một số anh bác sĩ tích cực đi trực đêm ở bệnh viện, các sinh viên năm cuối xin làm thêm ở la-bô của khoa, hoặc đơn giản ra bưu điện xin phân loại giấy tờ "lấy công làm lãi"... Một số khác theo xe ô-tô đi giao hàng đồ uống giải khát ở các khu nghỉ mát xa thành phố kiếm cũng kha khá.

Tìm lại được bức ảnh chính gốc họp hành trước khi khởi động chiến dịch về thăm Petofi 2005.

Bên ngoài, chị em phụ nữ Việt Nam đan len cũng kiếm rất được, vì bên châu Âu, áo len đan thủ công được định giá cao hơn áo len dệt bằng máy.

PhanHong

Friday, December 9, 2005

DOANH TRẠI PETÓFI Kỳ 2: Chuyện kỷ luật

Ảnh chụp nhân dịp Thăm lại HUNGARY tháng 8 năm 2005. Thay bằng ảnh chụp trong phòng chỉ huy của Doanh trại tháng 6 năm 2015.
Kỷ luật quân đội khá nghiêm: đi đâu phải xin phép, ra phố phải đi hai người, không ngủ qua đêm ở nơi khác, không đi ra khỏi Bu-đa-pét, cấm mặc quần bò, cấm xem phim tư bản, cấm yêu đương, cấm đi lao động kiếm tiền. Thời gian đầu, kỷ luật duy trì rất nghiêm, vì anh em sang đây đều được tuyển chọn cẩn thận và ít nhiều họ đều có thành tích trong chiến đấu, công tác, như: có anh đã từng là điện báo viên cho Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn (sau này là Tổng Bí thư của Lào), có anh đã từng là công tác tại Trung ương Cục miền Nam.v.v... Tuy vậy, sau ngày giải phóng miền Nam, do nhận thức thay đổi, do thành phần Ban chỉ huy cũng đổi mới, nên một số quy định được nới lỏng bớt…

Bộ đội Việt Nam trong doanh trại Petofi không tổ chức theo đại đội trung đội tiểu đội mà tổ chức theo đoàn. Mỗi đoàn khoảng 10-20 người, được bố trí ở trong 1-2 phòng. Các đoàn đều có đoàn trưởng, Bí thư chi bộ, hay Bí thư chi đoàn. Cơ chế Đảng lãnh đạo, nên đoàn nào chưa có Đảng viên sẽ ghép vào đoàn khác có Chi bộ Đảng. Anh em không phải ngủ giường tầng như ngoài ký túc xá sinh viên. Hai người chung một tủ đựng quần áo. Mỗi người có bàn học và tủ đầu giường, giá sách riêng. So với sinh viên ngoài có vẻ hơn. So với nghiên cứu sinh ngoài (được phát tiền thuê nhà dân) thì kém. Lương của nghiên cứu sinh bên ngoài cũng cao hơn, còn học bổng của sinh viên ngoài lại thấp hơn. Kỷ luật quân đội khá nghiêm: đi đâu phải xin phép, ra phố phải đi hai người, không ngủ qua đêm ở nơi khác, không đi ra khỏi Bu-đa-pét, cấm mặc quần bò, cấm xem phim tư bản, cấm yêu đương, cấm đi lao động kiếm tiền. Thời gian đầu, kỷ luật duy trì rất nghiêm, vì anh em sang đây đều được tuyển chọn cẩn thận và ít nhiều họ đều có thành tích trong chiến đấu, công tác, như: có anh đã từng là điện báo viên cho Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn (sau này là Tổng Bí thư của Lào), có anh đã từng là công tác tại Trung ương Cục miền Nam.v.v... Tuy vậy, sau ngày giải phóng miền Nam, do nhận thức thay đổi, do thành phần Ban chỉ huy cũng đổi mới, nên một số quy định được nới lỏng bớt.

Hai người cùng bận việc riêng tư, hiển nhiên là họ hẹn nhau cùng đi và cùng về. Chiều thứ bảy, hai anh cùng đi chợ phân công nhau mỗi anh xếp hàng mua một vài thứ thực phẩm, sau đó ra chen ô tô số 7, rồi ô tô 40, cũng có lúc lệch pha chứ. Phim hề Sác-lô thực ra cũng là phim tư bản, đã chiếu nhiều buổi dưới nhà ăn, vậy, nếu xem bộ phim đó ở ngoài rạp (âm thanh tốt hơn, chỗ ngồi tiện nghi hơn, thời gian chủ động hơn), tại sao không được? Vân vân. Vả lại, quan hệ bạn bè, ngay cả khi chỉ là bạn trai, khó chấp nhận mô hình hai anh luôn kè kè bên nhau. Chưa kể, thời gian sau, trong doanh trại có nhiều người trẻ (tuổi đời nghiên cứu sinh cũng giảm) nên đời sống tinh thần của họ có vẻ "phức tạp" và "phong phú" hơn. Nói rằng "có vẻ" là vì trước đây, trong doanh trại đã từng có những chuyện tày trời xảy ra liên quan đến các đàn anh từng trải và giàu kinh nghiệm. Có thể, sống trong một môi trường quá gò bó, nên khi có dịp phát tiết, hành động quá khích của con người vượt quá sức tưởng tượng của những người bình thường xung quanh.

Nghe kể lại, trước đây trong doang trại có cô phục vụ người Hung bỏ chồng dan díu đồng thời với vài ba anh Việt Nam một lúc, song, khéo đến nỗi không anh nào biết anh nào. Một lần, nhân ngày nghỉ thứ bảy, một anh sắp được kết nạp Đảng hẹn cô kia đi ra ngoại thành chơi. Do mấy hôm trước, trong lúc tâm sự cô ta đã vô tình tiết lộ là có dan díu với một anh bộ đội khác, là Đảng viên, nên anh này sợ rằng nếu cô ta lại tiết lộ sự việc thì mình sẽ không được kết nạp Đảng nữa. Việc này vô cùng ảnh hưởng tới "danh dự cá nhân" và 'tiền đồ tương lai" của anh ta. Anh ta bèn lên kế hoạch thủ tiêu cô gái Hung để bịt đầu mối. Và anh ta đã nhẫn tâm thực hiện kế hoạch này: khám nghiệm hiện trường, cô gái bị đâm hơn 20 nhát dao. Tất nhiên, sau đó anh ta bị bắt. Theo luật pháp của Hung, anh ta xứng đáng nhận bản án tử hình. Tuy nhiên, xử án xong, anh ta được bàn giao cho phía Việt Nam dẫn độ về nước. Ngày thi hành bản án, một đại diện Sứ quán Hung-ga-ri được mời tới pháp trường chứng kiến tận mắt sự việc. Ai cũng tưởng thế là hết chuyện.

Bức ảnh này chụp năm 2009, chụp cổng doanh trại.
Không phải vậy. Theo một nguồn tin thì anh bộ đội nọ không bị bắn, mà có hình nhân thế mạng (là một tên cướp của giết người), còn anh ta bị "đày" lên miền núi, cho thay đổi tên họ, cho làm lại cuộc đời. Vì sao có chuyện này? Là bởi trước khi bị dẫn độ về Việt Nam, một sĩ quan Hung-ga-ri kể lại, quản giáo hỏi anh ta có yêu cầu gì không. Anh ta trả lời mong muốn được xem tấm ảnh mẹ anh ta cất dưới đáy va-li cá nhân của anh ta ở doanh trại Petofi. Người ta vào doanh trại lấy được tấm ảnh đó, mang vào nhà giam đưa cho anh ta. Anh ta đón tấm ảnh, nghẹn ngào đưa bàn tay vuốt ve và ngắm nhìn rất lâu, mắt đỏ ngầu. Một con người như thế chắc chưa mất hết tính người, có lẽ đã phạm trọng tội trong một giây phút không làm chủ được bản thân, vẫn có cơ hội "lập công chuộc tội" trong cuộc đời!

Một "giai thoại" khác là có một anh bộ đội bị đuổi về nước vì ăn cắp một chiếc... quần lót nữ ở cửa hàng Corvin (khi đó, Corvin là cửa hàng bán quần áo lớn nhất Bu-đa-pét). Khi bị nhân viên bán hàng phát hiện, anh ta vẫn chối phăng. Anh ta "nhà quê" nên không biết là gian hàng tự chọn đó có lắp ca-mê-ra theo dõi. Thật trớ trêu, lương tháng 1.000 phô-rinh, nhưng ăn cắp một thứ đồ vặt trị giá 35 phô-rinh để... làm quà tặng vợ.

Một anh vốn là dũng sĩ lập được nhiều thành tích, đã từng được đề nghị xét phong anh hùng quân đội, người chân chất đôn hậu thật thà. Thế mà "hoa mắt cầm nhầm" tiền phụ cấp của đồng đội. Không may, anh bạn kia vốn tính lo xa cẩn thận. Anh ta yêu cầu đoàn trưởng kiểm tra va-li của từng người trong phòng. Kết quả là tìm thấy mấy tờ tiền màu tím có chữ ký bằng bút chì của người mất. Mỗi khi nhận phụ cấp, việc đầu tiên là anh bạn nọ bí mật lén ký tên vào tiền của mình. Anh "dũng sĩ" kia buộc phải cúi đầu nhận khuyết điểm.

Một anh khác lục túi quần lấy cắp tiền của đồng đội trong phòng tắm mù mịt hơi nước. Mấy ngày sau, đoàn đó lên đường về nước. Thấy anh nọ mua sắm quá nhiều thứ đồ đạc đắt tiền ở Mát-xcơ-va và Bắc Kinh, có biểu hiện "bất minh", người ta đã tra hỏi và anh ta buộc phải thú nhận sự việc tại Hà Nội. Kết quả, anh ta không được phong quân hàm sĩ quan.

Một chuyện nữa. Một anh đứng tuổi sắp hết hạn về nước thì "đánh quả" bằng cách kêu gọi khoảng vài chục anh em trẻ đóng gói xe đạp gửi về giúp đỡ gia đình, anh sẽ vui lòng mang hộ. Đến khi về đến Hà Nôi...


Đoàn SV75 trước ngày lên tàu sang Hung, ảnh chụp tại 23 Phan Bội Châu với Thủ trưởng Thịnh, Hiệu phó, và Đại đội phó Đại đội 196 tên là anh Khải.
PhanHong